Chủ Nhật, 12 tháng 1, 2014

Festival hoa đà lat

 
Du Lịch Đà Lạt

Đổi mới thi tốt nghiệp năm 2014, chậm có phải là chắc?

(GDVN) - Vừa qua nhiều vị nguyên là Bộ trưởng GD&ĐT và rất nhiều chuyên gia đã có ý kiến về chuyện

Đã có nhiều ý kiến về lựa chọn khâu đột phá cho cải cách giáo dục, bằng việc thay đổi kỳ thi tốt nghiệp phổ thông năm 2014 có thể  đây là dấu hiệu cho thấy Bộ chọn khâu thi cử làm khâu đột phá. Hãy khoan nói đến việc lựa chọn này đã tối ưu chưa, chúng ta nên xem xét các khâu kỹ thuật mà dự thảo có thể ảnh hưởng đến sự nghiệp cải cách giáo dục. Có thể là do Bộ vội nên cần huy động “sức mạnh tập thể”, huy động quyền “làm chủ tập thể” của mọi người để giúp hoàn thiện phương án?

Nghị quyết TW8 khóa 11 đề ra chủ trương lấy kết quả thi tốt nghiệp phổ thông làm cơ sở để tuyển sinh CĐ-ĐH. Ai cũng biết Bộ dự định kéo dài 3 chung đến năm 2017. Vậy tại sao không đưa phương án thí điểm thi tốt nghiệp theo tinh thần nghị quyết TW8 ngay trong năm 2014, nói cách khác hãy tổ chức  thi tốt nghiệp phổ thông như một kỳ thi tuyển sinh CĐ-ĐH trong vòng 1-2 năm (trong khi vẫn tổ chức thi tuyển sinh 3 chung). Làm được như vậy khong lo chất lượng tuyển sinh CĐ-ĐH thấp mà lại rút được kinh nghiệm khi chính thức thực hiện.

Bộ mong muốn: “từ nay cho đến khi có chương trình giáo dục phổ thông mới, chỉ cần một lần này thay đổi phương án thi tốt nghiệp. Khi triển khai chương trình mới thì sẽ đổi mới phương thức thi và công nhận tốt nghiệp một cách căn bản theo yêu cầu của Nghị quyết Trung ương 8” (gddt.vn, 2/1/2014). Vấn đề là khi nào thì chính thức triển khai chương trình mới?

Xin nêu một vài ý kiến:

Số lượng môn thi

Phương án 1 thí sinh phải thi 4 môn, Bộ phải chuẩn bị đề thi cho 7 môn (2 môn bắt buộc,  2 môn tự chọn trong 5 môn). Phương án 2 thí sinh phải thi 5 môn, Bộ phải chuẩn bị đề cho 8 môn (3 môn bắt buộc, tự chọn 2 trong 5 môn).

Dù chỉ có 01 thí sinh chọn 1 trong 5 môn tự chọn Bộ vẫn phải làm các thủ tục ra đề như  môn có 1 triệu thí sinh dự thi, như vậy có tiết kiệm không, có khoa học không?

Đối với thí sinh, thi 4 – 5 môn theo dự kiến hay 6 môn như cũ sẽ không có thay đổi gì nhiều vì thí sinh đã chuẩn bị tinh thần thi 6 môn rồi, nay rút bớt thì càng “dễ thở”. Đối với Bộ phát sinh thêm môn thi chắc chắn sẽ tốn kém hơn ở khâu ra đề, thẩm định, bảo mật… và càng tốn kém khi phải bố trí giám thị, phòng thi tại các địa điểm thi. Liệu Bộ có thực hiện ghép nhiều thí sinh thi các môn khác nhau vào cùng một phòng với chỉ hai giám thị?

Đã phải chuẩn bị ra đề tới 8 môn thi sao không nghiên cứu kiến nghị của Hiệp hội các trường CĐ-ĐH ngoài công lập, của nguyên Phó CT nước, nguyên Bộ trường GD&ĐT Nguyễn Thị Bình? Thiên hạ bảo “cờ ngoài, bài trong”, ở ngoài thì sáng, ở trong thì tối. Không muốn nghe “cờ ngoài”, cứ khư khư “bài trong” tức là thích chỗ tối, thích để làm gì?

 Chính sách miễn thi

“Sở GD&ĐT căn cứ tỷ lệ miễn thi do Bộ GD&ĐT quy định, xây dựng phương án miễn thi của địa phương mình” [1]. Nếu điều này thành hiện thực thì có nghĩa là sẽ có địa phương được Bộ “cho” tỷ lệ miễn thi cao hơn địa phương khác. Phải chăng đây là cách để ban phát “lợi ích” và cũng đồng nghĩa với việc muốn tỷ lệ miễn thi cao một chút thì phải biết cách “kính thưa, kính gửi…”. Phải chăng khi soạn thảo dự án người ta đã “nhìn xa, thấy rộng”, đã vẽ sẵn đường cho… “phong bì” chạy?

Dành cho mình quyền quy định tỷ lệ miễn thi, Bộ cho rằng Bộ có đủ số liệu thống kê? Cứ cho răng Bộ có số liệu thống kê của các địa phương mấy năm qua thì liệu Bộ có dám khẳng định các số liệu đó phản ảnh đúng thực tế? Có thể nói ngay rằng con số 20% học sinh mà Bộ dự kiến miễn thi chỉ phản ánh trí tưởng tượng “phong phú” của người thảo dự án. Con em đồng bào dân tộc ít người, vùng sâu, vùng xa, vận động không bỏ học đã là thắng lợi nói gì đến đủ tiêu chuẩn miễn thi? 

Nếu sự trung thực là đặc điểm của ngành Giáo dục thì đã chẳng có chuyện nhà vệ sinh rộng chừng 30 mét vuông giá thành lên đến 600.000 đồng, cũng chẳng có chuyện: ‘Bộ GD&ĐT cũng đã tiến hành thẩm định khoảng 500 hồ sơ quá trình đào tạo tiến sĩ và 150 luận án tiến sĩ. Kết quả cho thấy, khoảng 50% các cơ sở chưa thực hiện đầy đủ quy trình đào tạo, một số luận án chất lượng thấp. Về liên kết đào tạo, Bộ GD&ĐT đã thanh tra 9 trường ĐH và xử lý sai phạm với 4 đơn vị”, tỷ lệ này cũng gần 50% [2].

Một “sáng kiến” khác của Bộ không biết sẽ nhận được bao nhiêu % dư luận tán thành: “các thí sinh có kết quả học tập, rèn luyện tốt sẽ được miễn thi dựa theo các tiêu chí cơ bản sau: Kết quả học tập, rèn luyện của học sinh trong 3 năm học THPT; Kết quả các kỳ thi chọn học sinh giỏi các cấp; Kết quả các kỳ thi sáng tạo khoa học - kỹ thuật, các cuộc thi trí tuệ dành cho học sinh THPT được tổ chức ở cấp quốc gia, quốc tế” [2].

Có lẽ Bộ cho rằng chuyện mua điểm, chạy điểm chỉ có ở bậc đại học chứ không có ở phổ thông! Hay Bộ cho rằng ngay năm 2014 Bộ sẽ có phép màu hô biến toàn bộ giáo viên thành Bao Công để không có chuyện nể nang, châm chước cho con em đồng nghiệp trong trường? Lại nữa, thi học sinh giỏi các cấp là một tiêu chí miễn thi, vậy chỉ cần giỏi cấp huyện là “ngon” rồi, nếu có trách thì trước hết phải trách bên Văn hóa-Thể thao, ai bảo huy chương cấp “ao làng Asean” cũng được vinh danh ầm ĩ.

Người viết đã từng được nghe giáo viên khoa Công nghệ Sinh học một trường đại học nói rằng: “khoa chúng cháu được mệnh danh là nhà trẻ của trường”, hóa ra rất nhiều con em cán bộ giáo viên trong trường bằng nhiều cách khác nhau đã trở thành giáo viên khoa này.

Triết lý “phòng bệnh hơn chữa bệnh” vốn không phải là cao siêu gì khiến cho các “nguyên khí quốc gia” không thể tiếp thu được. Vậy tại sao biết là “bệnh” sẽ có cơ hội sinh sôi (hoặc giả chưa biết thì cũng nên đọc để biết)  mà lại không phòng? Hay là Bộ cố tình đưa ra như vậy để “có đất” cho người dân góp ý, để chuyển hướng dư luận sang những đề tài bớt “nhạy cảm” hơn?

Thiết nghĩ cần phải loại bỏ ngay từ trứng nước ý tưởng “Bộ quy định tỷ lệ miễn thi cho các địa phương” nếu Bộ muốn tránh cho cán bộ của mình nguy cơ phải đứng trước vành móng ngựa. Tất cả học sinh đều phải trải qua kỳ thi tốt nghiệp, những người không tốt nghiệp sẽ được cấp giấy chứng nhận học hết chương trình phổ thông đề chuyển sang học nghề.

Tổ chức thi như thế nào?

Tổ chức ngay kỳ thi tốt nghiệp năm 2014 theo tinh thần chỉ đạo của TW là cách tốt nhất hiện nay để chủ trương cải cách giáo dục không phải chờ mấy năm nữa. Vấn đề tiếp theo là thi mấy môn và thi những môn nào. Người viết cho rằng cần chọn 4 môn bắt buộc là Toán, Văn, Ngoại ngữ và Lịch sử, các môn còn lại sẽ chọn trong 4 môn là Vật lý, Hóa học, Địa lý và Sinh học, riêng các trường khối nghệ thuật, thể thao sẽ thi thêm các môn năng khiếu. Riêng môn Ngoại ngữ có thể có những điều chỉnh phù hợp với tình hình dạy và học tại các vùng miền khác nhau.

Một số chuyên gia không muốn Lịch sử là môn thi bắt buộc, họ cần phải hiểu rằng người Việt trẻ ngày nay dốt nhất là Lịch sử. Ngay khi cách mạng chưa thành công Cụ Hồ đã nói:  “Dân ta phải biết sử ta; Cho tường gốc tích nước nhà Việt Nam…”. Gần đây Thứ trưởng Ngoại giao Nguyễn Thanh Sơn đã phải nêu ý kiến: “nên cho hoa hậu học lịch sử trước khi đi thi quốc tế’. Hàng nghìn điểm 0 môn Lịch sử chẳng lẽ chưa đủ gióng hồi chuông báo động về sự đánh mất bản sắc dân tộc, hay là chúng ta muốn thay thế người Việt bằng một thế hệ “công dân toàn cầu” kiểu mới, không nguồn gốc, không biên giới, không tổ quốc?

Không phải là không thể tổ chức một kỳ thi nghiêm túc nếu sử dụng các biện pháp nghiệp vụ và công cụ hỗ trợ như camera ghi hình các buổi thi. Nên biết Công ty cổ phần thương mại Nguyễn Kim phối hợp cùng với Tập đoàn Bưu chính viễn thông VN VNPT, Công ty cổ phần truyền thông Sơn Ca, Công ty TNHH Questek Việt Nam đã có kế hoạch tài trợ 31.5 tỷ đồng lắp 20.000 camera giám sát cho các trường mẫu giáo và nhà trẻ toàn quốc. Trên tinh thần đổi mới giáo dục, chẳng lẽ ngành giáo dục không thể xin được nguồn kinh phí vài chục tỷ cho mục đích này?

Đổi mới giáo dục không thể thành công nếu cứ tiếp tục lối nghĩ cũ, nặng về tư duy nhiệm kỳ. Hy vọng lãnh đạo ngành tiếp thu ý kiến của Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam “cần đổi mới ngay tại cơ quan Bộ GD&ĐT”, cũng nên lắng nghe những lời khó lọt tai của dư luận, thận trọng nhưng không có nghĩa là sợ hãi bởi  sợ hãi chẳng bao giờ làm nên sự nghiệp.

Chủ Nhật, 24 tháng 11, 2013

Huyện Di Linh 
1. Giới thiệu
Di Linh là một huyện thuộc tỉnh Lâm Đồng, nằm trên cao nguyên Di Linh, ở độ cao 1000 m so với mặt nước biển. Tên Di Linh bắt nguồn từ Djiring, theo nhiều người, đây là tên của vị chủ làng có công thành lập ra buôn này. Di Linh là vùng đất Bazan màu mỡ, có tổng diện tích tự nhiên hơn 162.000 ha; trong đó, có 47.000 ha đất nông nghiệp. Di Linh có tiểu vùng thời tiết, khí hậu rất thích hợp đối với các loại cây công nghiệp mà đặc biệt là cây cà phê.

2. Vị trí địa lý
Diện tích 1614.63 km2.
a/ Phía đông giáp với huyện Đức Trọng.
b/ Phía tây gíp huyện Bảo Lâm.
c/ Phía nam giáp tĩnh Bình Thuận.
d/ Phía bắc giáp huyện Lâm Hà.

Huyện Di Linh có nhiều dạng địa hình khác nhau, nhưng chủ yếu có hai dạng điạ hình.

- Địa hình binh sơn nguyên : Vùng này tương đối bằng phẳng, phân bố ở các QL 20, thích hợp trồng các lạoi cây công nghiệp.
- Địa hình núi cao: Phân bố ở phía nam và tây nam huyện . Hiện nay còn rừng tự nhiên che phủ. Vùng này chủ yếu là phát triển lâm nghiệp với chức năng phòng hộ và bảo vệ môi trường .

Những vùng đất bằng có khả năng phát triển nông nghiệp phân bố chủ yếu dọc theo trục đường quốc lộ 20 và tuyến đường liên xã, đường trục xã nên việc khai thác vào sản xuất nông nghiệp củng có nhiều thuận lợi. Tuy nhiên điạ hình cũng tạo ra nhiều vị trí rất thuận lợi cho xây dựng các hồ chứa nước, các công trình thủy lợi nhỏ.
Huyện Di Linh nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa biến thiên theo độ cao, khí hậu ôn hòa quanh năm, thuân lợi cho việc phát triển các loại cây trồng vật nuôi có nguồn gốc á nhiệt nhiệt đới và nhiệt đới.

Một số yếu tố khí tượng sau đây:

- Nhiệt độ trung bình năm 22.20 C.
- Nhiệt độ tối thấp hơn so với ngày 5,10C
- Nhiệt độ tối cao( 1968 ) : 33,600C
- Nhiệt độ bình quân cao nhất: 27,50C
- Nhiệt độ bình quân thấp nhất : 170C
- Tháng có nhệt độ cao nhất (tháng 5 ) 22.90C
- Tháng có nhệt độ thấp nhất (tháng 1) 19.30C
- Lượng bốc hơi bình quân năm 764 mm.
- Tháng có lượng bốc hơi lớn nhất ( Tháng 3 ): 113mm.
- Tháng có lượng bốc hơi nhỏ nhất ( Tháng 9 ): 53,77mm.
- Lượng mưa cả năm : 3.103 mm.
- Tháng có lượng mưa cao nhất ( Tháng 8 ): 897 mm.
- Tháng có lượng mưa thấp nhất ( Tháng 1 ) 4 mm.
- Độ ẩm bình quân năm.: 87%.

3. Các xã

Huyện Di Linh bao gồm thị trấn Di Linh và 18 xã: Bảo Thuận, Đinh Lạc, Đinh Trang Hoà, Đinh Trang Thượng, Gia Bắc, Gia Hiệp, Gung Ré, Hoà Bắc, Hoà Nam, Hoà Ninh, Hoà Trung, Liên Đầm, Sơn Điền, Tam Bố, Tân Châu, Tân Nghĩa, Tân Thượng.

4. Cơ cấu dân số

Tổng dân số: 158.000 dân, năm 2002 đến năm 2006.
Trong giai đoạn năm trước năm 2000, dân số huyện Di Linh tăng khá nhanh, tốc độ tăng bình qun l 6,48%/năm (trong đó tăng tự nhiên là 2,12% và tăng cơ học là 4,36%). Nguyên nhân là do trong giai đoạn này giá cà phê tăng cao nên xuất hiện luồn dn di cư tự do từ các tỉnh miền Bắc, miền Trung và miền Nam đến định cư và sản xuất cà phê. Dân số tăng nhanh nhất trong giai đoạn 1995 – 2000, bình qun mỗi năm tăng từ 7.000 – 8000 người.
Trong giai đoạn 2001 – 2005, dân số dần đi vào ổn định, tỷ lệ tăng dân số khoảng 2,6%. Năm 2005, dân số toàn huyện là 158.000 người. Trong đó, dân số khu vực thành thị là 20.607 người, khu vực nông thôn là 137.393 người. Mật độ dân số là 95 người/km2, thấp hơn rất nhiều so với mật độ trung bình của tồn tỉnh l 117 người/km2). Dn tộc thiểu số chiếm 35,6% tổng dn số của tồn huyện. 

Dự án BMGF-VN giai đoạn II

Dự án BMGF-VN giai đoạn II, bước hai: Cơ hội cho người nghèo được tiếp cận Internet miễn phí
(LĐ online) - Sáng 23/11, tại Đà Lạt, Bộ Thông tin & Truyền thông, Quỹ Bill & Melinda Gates, Bộ Văn hóa Thể thao & Du lịch đã tổ chức lễ bàn giao hoàn thành việc lắp đặt trang thiết bị trong khuôn khổ Dự án BMGF-VN giai đoạn II, bước 2 cho 16 tỉnh: Bắc Kạn, Cao Bằng, Lạng Sơn, Phú Yên, Khánh Hòa, Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Bình Thuận, Ninh Thuận, Bạc Liêu, Hậu Giang, Cà Mau, Vĩnh Long, Đồng Tháp và Lâm Đồng.

Ký kết giao ước giữa 16 tỉnh được dự án BMGF-VN tài trợ giai đoạn II, bước 2
Ký kết giao ước giữa 16 tỉnh được dự án BMGF-VN tài trợ giai đoạn II, bước 2
Đến dự có Đồng chí Nguyễn Bắc Son - Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông, Đ/c Nguyễn Xuân Tiến - UVTW Đảng, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Lâm Đồng và lãnh đạo bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ VHTT&DL cùng 16 địa phương được tài trợ trong giai đoạn II này.
Tính đến hết tháng 9/2013, Dự án đã hoàn thành việc lắp đặt ở 16 tỉnh tham gia Dự án bước 2 với 4.600 bộ máy tính và các trang thiết bị kết nối Internet khác cho 665 điểm thư viện công cộng và bưu điện văn hóa xã. Trong đó, các điểm thư viện cấp tỉnh được trang bị 40 bộ/điểm; các thư viện cấp huyện được trang bị 10 máy tính/điểm; thư viện xã và bưu điện văn hóa xã được trang bị 5 máy/điểm.
Ngoài ra, các điểm còn được trang bị máy in, máy chiếu, tai nghe, các thiết bị phụ trợ khác tùy theo chức năng hoạt động.
Trước đó, bước 1 của dự án đã được triển khai trong 15 tháng (từ 4/12/2012 đến 6/2013) tại 12 tỉnh, gồm: Hà Giang, Tuyên Quang, Thái Nguyên, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Đắk Nông, Bình Phước, Tây Ninh, Bến Tre, Trà Vinh, Sóc Trăng cùng 3 trung tâm đào tạo vùng tại Hà Nội, Đà Nẵng và TP.Hồ Chí Minh.
Đã có 637 điểm của Dự án bao gồm 311 điểm thư viện, 323 điểm Bưu điện văn hóa xã và 3 trung tâm đào tạo vùng được lắp đặt máy tính cho phép người dân truy cập Internet miễn phí.
Theo sô liệu thống kê từ hệ thống Observatory, từ 1/6/2012 đến 30/9/2013, đã có 218.250 lượt người sử dụng máy tính ở 12 tỉnh trong bước 1 của dự án với tổng thời lượng truy cập Internet là 2.028.191 giờ.
Để đảm bảo tính bền vững, dự án cũng đã tổ chức đào tạo cho 4.700 lượt cán bộ quản lý các cấp và nhân viên kỹ thuật để quản lý và hướng dẫn người sử dụng Internet.
a
Bộ trưởng Bộ TTTT Nguyễn Bắc Son và Thứ trưởng Bộ VHTT&DL Huỳnh Vĩnh Ái thăm quan điểm Internet công cộng tại thư viện tỉnh Lâm Đồng
Dự án " Nâng cao khả năng sử dụng máy tính và truy cập Internet công cộng tại Việt Nam" do tổ chức phi chính phủ Bill & Melinda Gates Foundation (BMGF) tài trợ được thực hiện trong thời gian 5 năm (từ 2011 -2016) với tổng kinh phí 50.568.362 USD. Trong đó, tài trợ không hoàn lại của BMGF là trên 29.998.000 USD, đóng góp bằng phần mềm của Microsoft là 3.639.000 USD và trên 16.931.000 USD là vốn đối ứng của Việt Nam.
Mục tiêu của Dự án trên thế giới nói chung và ở Việt Nam nói riêng, cũng như ở những tỉnh miền núi như Lâm Đồng, dự án sẽ góp phần giảm bớt sự bất bình đẳng về khoảng cách số giữa các vùng dân cư trong việc hưởng lợi từ các thành quả do công nghệ thông tin và truy cập Internet mang lại.
Bộ trưởng Bộ Thông tin và truyền thông Nguyễn Bắc Son cho biết: Trong thời gian 5 năm, dự án sẽ cung cấp, lắp đặt 12.070 máy tính nối mạng Internet băng thông rộng và các thiết bị phụ trợ cho 1.900 điểm thư viện công cộng và bưu điện văn hóa xã.
Trong 5 năm sẽ có khoảng 76.000 người ở nông thôn được sử dụng máy tính và Internet. Sau khi hoàn thiện việc lắp đặt, người dân sẽ được sử dụng miễn phí ở các thư viện công cộng và giảm 50% cước phí truy cập ở các điểm bưu điện văn hóa xã. Dự án triển khai để tìm kiếm các thông tin hữu ích, cải thiện đời sống kinh tế - văn hóa của họ.
Còn theo Thứ trưởng Bộ VHTT&DL - Huỳnh Vĩnh Ái: Hệ thống Bưu điện văn hóa xã sẽ trở thành trung tâm thông tin cộng đồng, là ngôi nhà văn hóa chung cho người dân ở vùng nông thôn, góp phần nâng cao dân trí, cải thiện đời sống kinh tế, văn hóa tinh thần cho mọi người dân vùng nông thôn. Và hệ thống thư viện công cộng Việt Nam sẽ trở thành trung tâm thông tin, văn hóa, giáo dục hữu ích, thân thiện bình đẳng, tạo điều kiện cho việc học tập suốt đời của người dân địa phương.
Bà Deborah Jacobs - Giám đốc chương trình thư viện toàn cầu của Quỹ BMGF khẳng định: Chúng tôi rất vui khi được đóng góp một phần nhỏ trong con đường làm cho thông tin - công nghệ cải thiện cuộc sống của người dân Việt Nam thông qua các thư viện công cộng và bưu điện văn hóa xã, đặc biệt là ở cấp xã (nơi có nhiều người dân nghèo đang sinh sống). Cũng theo bà Jacobs thì Quỹ luôn có niềm tin rằng tất cả mọi người dù sống ở đâu, nên có cơ hội để sống một cuộc sống lành mạnh và hữu ích.
Đặng Linh Đan
Theo baolamdong.vn